Nghĩ về Phật giáo và Dân tộc…

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 5.10.2010

Nhân Một Một Nghìn Năm Thăng Long nghĩ về Phật giáo và Dân tộc

PARIS, ngày 5.10.2010 (PTTPGQT) – Nhà cầm quyền Cộng sản đang tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Nhưng tiếng dân phê phán trực chỉ vào sự phung phí tiền bạc kếch sù cho những dự án hoa hỏe, nhưng chẳng tái hồi được khuôn mặt quắc thước của tiền nhân đã dựng văn, giữ nước, chống ngoại xâm. Đến như bộ mặt của người khai sáng quốc gia Đại Việt triều Lý cũng đã bị Tàu hóa qua một bộ phim tàu lai do Bắc Kinh đạo diễn.

Đâu đó có tiếng dân xầm xì “Một Nghìn Năm Lăng Nhăng Cộng sản” !

Đâu những Thiền sư dựng Nước ? Đâu những Phật tử can cường lập quốc ? Chế độ Cộng sản im bặt trước công lao của Tổ tiên và Phật giáo.

Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, lấp khoảng trống nghìn năm ấy qua bài viết tổng chi “Nghĩ về Phật giáo và Dân tộc nhân Một Nghìn Năm Thăng Long” để nhắc nhở đàn hậu bối công lao Gìn Nước Giữ Dân của tiền nhân đất Việt.

Xin giới thiệu toàn văn bài viết ấy sau đây :

Nghĩ về Phật giáo và Dân tộc
nhân Một Nghìn Năm Thăng Long


Thích Viên Định

Đạo Phật du nhập vào Việt nam đã trên 2000 năm lịch sử, luôn cùng chung gánh chịu mọi thăng trầm, vinh nhục với dân tộc. Đó là tinh thần Bồ Tát Đạo đã được Thiền sư Khương Tăng Hội trình bày trong Lục Độ Tập Kinh ở Thế kỷ thứ II, TL : “Bồ Tát thấy dân kêu ca, liền xông vào nơi lửa dữ để cứu nạn dân thoát khỏi chốn đau khổ lầm than”. Đó cũng là tinh thần của Bồ Tát Địa Tạng : “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận, phương chứng bồ đề” – Địa ngục chưa trống, thề không thành Phật, độ hết chúng sanh, mới chứng bồ đề.

Các Thiền sư Việt Nam không ẩn mình trong các chốn tòng lâm, tu viện vắng lặng, xa lánh cuộc đời, tự tu, tự độ, mà các ngài thường lấy việc độ sanh làm sự nghiệp, lấy thế gian làm phương tiện tu hành : “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mích bồ đề, du như cầu thố giác” – Phật pháp hiện hữu giữa cõi đời, không thể lánh đời mà tìm thấy giác ngộ, bỏ đời để cầu đạo bồ đề chẳng khác chi đi tìm lông rùa, sừng thỏ – không bao giờ đạt được.

Bài tham luận tại Đại Hội GHPGVNTN kỳ VII năm 1977 ở Saigon, có đoạn nói rằng : “Các nhà truyền giáo Việt Nam đã khéo léo đưa Phật giáo vào lòng dân tộc mỗi lúc mỗi sâu đậm, đến nay chúng ta không tìm đâu ra trong Phật giáo một dấu vết gì gọi là ngoại lai hay phi dân tộc. Đó là thành công lớn lao trong sự nghiệp truyền giáo của Tổ tiên chúng ta. Mặt khác, các nhà truyền giáo lúc bấy giờ cũng đã thành công nhiều trong sự nghiệp xây dựng đất nước, trong tư thế tự chủ hùng cường đối với phương Bắc sau bao thế kỷ bị đô hộ. Các nhân vật Phật giáo có công với đất nước như : Thái sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu thời Đinh (968-980) và thời tiền Lê (980-1009) ; Quốc sư Vạn Hạnh thời Lý Công Uẩn, Quốc sư Khô Đầu thời Lý Nhân Tôn, Quốc sư Minh Không thời Lý Thần Tôn, Quốc sư Viên Thông thời Lý Anh Tôn (1010-1225) ; Quốc sư Phù Vân Trần Thái Tôn v.v…và đã giúp các vua nhà Trần như : Thái Tôn, Nhân Tôn xuất gia đầu Phật sau khi bình định được các giặc giã bên ngoài mỡ rộng bờ cõi, xây dựng nước nhà vững mạnh (1225-1400)”.

Vì vậy mà Phật giáo đã đi sâu vào lòng dân tộc như nước với sữa hoà hợp, nhuần nhuyễn, không còn phân biệt được đâu là văn hoá Phật giáo, đâu là văn hoá dân tộc.

Sau thời đại Hùng Vương, đất nước ta rơi vào thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc. Hai Bà Trưng (40-43 TL) là hai vị Nữ Tướng, với sự giúp sức của Sư Bà Thiều Hoa, khởi đầu cho thời kỳ phục quốc. Đến anh em Bà Triệu Thị Trinh với Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa (248 Tl) cũng lấy màu Vàng của nhà phật làm màu cờ chính nghĩa chiêu mộ lòng Dân ; cho đến Lý Phật Tử (544-602), ngay tên gọi nầy cũng đã cho thấy tinh thần Phật giáo có mặt trong đời Tiền Lý. Trải đến các đời : MaiThúc Loan – Phùng Hưng – Kiều Công Tiển – Khúc Thừa Dụ – Dương Diên Nghệ – Ngô Quyền, bấy giờ không thiếu bóng dáng các vị thiền sư “Hộ Quốc an Dân” như : Pháp Hiền, Thanh Biện, La Quí An ; Cảm Thành, Thiện Hội, Vân Phong… Nhưng mãi đến thời Nhà Đinh (968-979), với sự “khuông phò nước Việt” của Khuông Việt Đại sư – một tôn hiệu cao quý mà vua Đinh Tiên Hoàng xưng tụng Thiền sư Ngô Chân Lưu, vị Tăng Thống đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, dân tộc Việt mới giành lại được giang san, bờ cõi, mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự chủ. Tiếp đến thời Nhà tiền Lê, với Thiền sư Pháp Thuận, từng làm người lái đò tiếp sứ giả Tàu. Vua Lê Đại Hành hỏi vận nước và vận mạng của triều đình dài ngắn thế nào, Sư đáp bằng bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng :

“Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh.

Nghĩa là :

Vận nước như mây cuốn

Trời Nam mở thái bình

Vô vi trên điện các

Xứ xứ hết đao binh.”

(trích “Nhân Hai bài thơ…”

của Võ Văn Ái, Quê Mẹ ấn hành)

Và đến thời Nhà Lý, với những chiến công hào hùng “phá Tống bình Chiêm” của Lý Thường Kiệt, đất nước ta mới thật sự huy hoàng, hiển hách trong kỷ nguyên Độc Lập – Tự Chủ của dân tộc. Trong thành công đó, có bóng dáng của Thiền sư Vạn Hạnh với câu thơ tán thán “Chống gậy trúc nhà chùa, giữ chủ quyền quốc gia độc lập” trong bài thơ truy tán của vua Lý Nhân Tông (1072-1127) :

Vạn Hạnh dung tam tế, Chân phù cổ sấm cơ, Hương quan danh Cổ Pháp, Trụ tích trấn vương kỳ. Nghĩa là : “Vạn Hạnh thông ba cõi, Thật hợp lời sấm xưa, Quê hương tên Cổ Pháp, Chống gậy trấn kinh vua”.

Đến thời vua Trần Nhân Tông, vị Tổ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, sau khi bình xong giặc Nguyên – Mông (1258-1288) vua tìm lên núi Yên Tử ra mắt Quốc sư Phù Vân để học đạo, khi non sông đã vững vàng trước họa xâm lăng ;

“Đất nước hai phen mòn ngựa đá, Non sông muôn thuở vững âu vàng”.

(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ diễn kim âu)

Phật giáo Việt Nam luôn hoà nhập, thăng trầm theo vận mạng của dân tộc. Thiền sư Việt nam luôn ghi nhớ việc lấy Giới Luật làm thọ mạng lâu dài của đạo pháp, nhưng các Ngài cũng không quên việc Độ sanh là sự nghiệp của chư Tăng. Với tinh thần Bồ Tát Đạo, “vô ngã vị tha”, các Thiền sư không chỉ cầu giải thoát cho riêng mình mà thờ ơ với xã hội. Các Ngài luôn tâm nguyện giải thoát mọi sự đau khổ cho đời. Các vị Thiền sư, khi thì làm ông chèo đò, khi thì đi sứ, lúc xông pha chiến trận, muôn hình vạn trạng, nhưng khi xong việc, các ngài đều quay về nơi chốn tòng lâm, không nhận chức tước của thế gian, giữ vững truyền thống : “Sa môn bất bái vương giả”.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, một vị Phật sống đương thời, đã phải lưu vong khỏi quê hương, khi Tây Tạng bị xâm lăng, nhưng Ngài vẫn luôn lo lắng, bôn ba khắp nơi, vận động cho quê hương được an bình, thoát khỏi nạn ách.

Ngày nay, đất nước ta lại rơi vào thời kỳ suy vong, dân tộc không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Bên ngoài, nạn ngoại xâm đang lấn chiếm dần từng thước đất biên giới, từng hải đảo của tổ tiên ta bao đời đã dày công, tốn bao xương máu mở mang bờ cõi và giữ gìn từng tấc đất.

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Là người dân Việt nam, là Phật tử Việt nam, với truyền thống hào hùng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước từ ngàn xưa của tổ tiên, chúng ta không thể im lặng, làm ngơ, bỏ mặc cho đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị dày xéo, đau thương, trở lại cảnh đoạ đày nghìn năm Bắc thuộc.

Nhị vị Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, từ năm 1975 đến nay cũng đã và đang vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền cho người dân và toàn vẹn lãnh thổ cho tổ quốc Việt nam. Các Ngài nhận định rằng : “Chánh pháp không thể nở hoa nơi giang sơn nô lệ, Chúng sanh không thể an lạc nơi áp bức đói nghèo” (Trích Thông Điệp Phật Đản 2552 của Đức tăng thống Thích Huyền Quang).

Cuộc chiến nào không đau thương, thành công nào không mất mát. Công cuộc vận động của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng không nằm ngoại lệ. Các thế lực vô minh vừa đánh phá trực diện từ bên ngoài vừa ly gián nội bộ, mua chuộc các thành viên Giáo Hội, để đánh phá từ bên trong. Nhưng với tinh thần Bồ Tát đạo của Vạn Hạnh Thiền Sư, dưới sự lãnh đạo của Đức Cố Đệ Tứ Tăng Thống, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang và đương kim Xử Lý Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hoá Đạo, Đại Lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, chư Tăng, Ni và Phật tử GHPGVNTN đã không màng đến lẽ thịnh suy của cuộc đời, chỉ một lòng phụng sự, đem lại lợi ích cho quốc gia, dân tộc, đúng với ý nghĩa : “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”.

Thích Viên Định

Advertisements

Ba đề nghị gửi Chủ tịch nước về tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long

Việt Nam ngày 25-9-2010


Kính gửi: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Tôi là công dân Nguyễn Xuân Tụ, tiến sĩ Sinh học, bút danh Hà Sĩ Phu, 71 tuổi, thường trú tại 4E Bùi Thị Xuân, Đà Lạt, Lâm Đồng, trân trọng gửi đến Chủ tịch một ý kiến ngắn liên quan đến việc tổ chức Đại lễ “1000 năm Thăng Long – Hà Nội”.

Kỷ niệm 1000 năm ngày ra đời và phát triển thủ đô Thăng Long – Hà Nội là một sự kiện có ý nghĩa rất thiêng liêng trong suốt chặng đường dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ta, việc kỷ niệm long trọng là một chủ trương rất đúng.
Tuy vậy, Đại lễ này tiến hành trong tình hình đất nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức phức tạp: cả về xây dựng cũng như bảo vệ đất nước đều có hai mặt, mặt thành tựu đáng vui mừng và mặt yếu kém đáng lo âu. Mọi mặt đều có sự phân hóa theo hai đầu trái ngược.
Trong dịp diễn ra Lễ hội, không người Việt Nam yêu nước nào lại có thể mải vui mà quên tình trạng đất nước mình vẫn còn bị xếp hạng là một nước nghèo, số đông dân chúng vẫn còn phải kiếm sống rất chật vật, số đông vẫn chưa được hưởng quyền dân chủ để làm chủ đất nước.
Mối đe dọa bị xâm lấn và đồng hóa của nước láng giềng phương Bắc từ lịch sử 1000 năm đang hiện về rõ hơn lúc nào hết, và sự tự vệ, tự cường chủ quan của ta hiện nay nhiều mặt tỏ ra thua kém tổ tiên oai hùng thuở trước, trong khi điều kiện khách quan của thế giới hiện nay đã thuận lợi hơn trước rất nhiều. Mọi hiện tượng đã phơi bày trên báo chí khắp nơi, trong và ngoài nước, thiết tưởng không cần nhắc lại dài dòng.

Trong bối cảnh như vậy, tôi muốn bày tỏ 3 điều lo lắng cũng là ba đề nghị như sau:

1. Không thể khai mạc Đại lễ vào ngày 1-10-2010


Ngày ấy không phải ngày vua Lý Công Uẩn thảo “Chiếu dời đô”, không phải ngày khởi sự dời đô (động thổ), nhưng lại là ngày Quốc khánh Trung Hoa!

Đã thế, ngày kết thúc là 10 tháng 10 lại trúng Quốc khánh của Trung Hoa Dân quốc tại Đài Bắc! Một nhà nước biết tự trọng phải tránh sự trùng hợp ấy, nhất là trong tình trạng tranh chấp Việt – Trung hiện nay. Đọc diễn văn trịnh trọng vào những ngày ấy khác nào lăng nhục từng người dân Việt, tránh sao khỏi miệng thế mỉa mai về thân phận của kẻ chư hầu? Riêng điều này sẽ làm cho lễ kỷ niệm không nêu cao được truyền thống anh hùng chống ngoại xâm đáng tự hào của dân tộc, khiến kẻ thù phải kiêng nể, mà sẽ gây tác dụng ngược rất nguy hiểm.

2. Loại bỏ những hình thức hội hè, tuyên truyền quá tốn kém


Báo chí đã nêu chi phí Đại lễ khoảng 4,5 tỉ Mỹ kim, tức gần 1 phần 10 ngân sách quốc gia. Cần phải giảm bớt. Nhà nghèo không cứ phải khoe sang mới gây phấn khởi, trái lại sẽ là vết nhục trước cảnh bao nhiêu trường học còn đổ nát, học sinh phải đu dây qua sông đến trường, bệnh nhân không có giường nằm, bao nhiêu bé gái phải bán mình khắp năm châu làm nô lệ…

3. Không chiếu bộ phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Longtrong đợt kỷ niệm 1000 năm này


Bộ phim này chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng, mắc những sai lầm ngay từ gốc, sẽ gây phản cảm rất bất lợi trong dân chúng, có hại cho việc bồi dưỡng lòng yêu nước và giữ gìn văn hóa dân tộc.

Thưa Chủ tịch,

Kỷ niệm 1000 năm xây dựng Thủ đô văn hiến và bất khuất là một việc lớn lao vô cùng thiêng liêng, động đến tâm khảm của mỗi con dân nước Việt, mỗi thành công hay sai sót đều khắc sâu dấu ấn vào lịch sử. Với tâm sự ấy tôi viết thư này (cá nhân tôi cũng được thành người Hà Nội từ năm 1949), nhờ báo chí chuyển đến Chủ tịch nước, mong được ông lưu ý. Công hay tội của thế hệ chúng ta sẽ được khắc vào bia đá, mà người khắc sẽ là muôn đời hậu thế, không phải chúng ta.
Kính chúc Chủ tịch sức khoẻ.

Xin gửi Chủ tịch lời trân trọng và thống thiết của một công dân.

Kính thư
Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu)

Khoa học hiện đại và con đường Phật giáo


Nguyên lý của Phật giáo là: hãy làm cho tâm thức mình trong sạch, không phiền não, không biến động, không phân chia, khi đó thực tại tối hậu sẽ hiện ra (trong tâm ấy). Và tùy mức độ thanh tịnh của tâm thức đến đâu, thế giới như thật sẽ hiện ra tới mức độ đó. Mặt gương tâm sạch tới đâu, thế giới sẽ hiện ra tới đó. Thiền sư Vô Ngôn Thông, vị khai sáng dòng thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam đã đại ngộ vì câu nói của Thiền sư Bách Trượng: “Đất tâm nếu không, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên chiếu sáng”. Tâm nếu không phân chia chủ thể với khách thể, thân tâm và thế giới, tâm và vật, Phật giáo và khoa học…, nghĩa là không tự phân tán, không tự làm manh mún chính nó, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên soi chiếu, thực tại tối hậu sẽ hiện tiền (hiện ra trước mắt).

Nguyễn Thế Đăng

Khoa học hiện đại và con đường Phật giáo

Khoa học phương Tây như chúng ta biết hiện nay phát xuất từ văn minh Hy Lạp. Vào khoảng 500 năm trước Tây lịch (TL), thời mà triết gia Karl Jaspers gọi là “thời trục”, đó là thời bình minh của triết học và tư tưởng với những vị đã thiết định nên cách thức và đường lối tư duy của nhân loại ở phương Đông và phương Tây, như giáo chủ Zarathustra, giáo chủ Mahavira, Phật Thích Ca Mâu Ni, Lão Tử, Khổng Tử, Socrates, Plato, Aristotle…

Những tư tưởng gia đầu tiên của Hy Lạp, trong câu hỏi bản thể hay nguyên nhân chất thể của vũ trụ là gì, đã được Thales (khoảng 624 – 547 trước TL) nói: “Tất cả là Nước”, Anaximandre (610 – 564 TL) cho rằng “Nguyên nhân chất thể và nguyên nhân sơ bản của vạn vật là cái Bất định”; với Anaximène (585 – 528) chất thể ấy là “Khí”, với Pythagore, vũ trụ là sự hòa âm (cosmos, chữ cosmos này cũng có nghĩa là vũ trụ) và Heraclite thì nói: “Mọi vật đều có thể biến đổi thành Lửa và Lửa cũng biến đổi thành bất cứ sự vật gì, cũng như hàng hóa biến đổi thành vàng và vàng biến đổi thành hàng hóa vậy”. Parménide xem “hữu thể” (être) là nền tảng của vạn vật. Còn Leucipus và Democrite (thế kỷ IV tr. TL) nói rằng chất thể của vũ trụ là những “nguyên tử”…

Dĩ nhiên, chúng ta cần hiểu nước, lửa, khí… hay hữu thể không phải ngây thơ theo nghĩa đen, mà các tư tưởng gia ấy chỉ muốn nói một điều, tất cả vũ trụ vạn vật đều sinh ra từ một thực thể, và do đó “vạn vật đồng nhất thể”.

Cho đến Plato (427 – 347 tr. TL) và nhất là học trò của Plato là Aristotle (384 – 322 tr. TL) đã chia rõ ràng sự hiểu biết về vũ trụ thành hai môn học Siêu hình học (Metaphysics) và Vật lý học (Physics): siêu hình học là môn học nghiên cứu về hữu thể hay bản thể và vật lý học nghiên cứu về sự vật, hiện tượng. Khoa vật lý học như chúng ta biết ngày nay phát xuất từ đó.

Từ lúc này trở đi, có khoa học và khoa học được phát triển chủ yếu theo hướng vật lý học, nghĩa là tìm kiếm sự thực của vật chất (vật chất là “sắc”, uẩn đầu tiên trong 5 uẩn của Phật giáo là sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Chúng ta có thể kể ra vài khuôn mặt lớn, như Ptolemy (83 – 161) nhà thiên văn học, Euclid nhà toán học với tác phẩm Các nguyên tố (the Elements) (nói theo ngôn ngữ Phật giáo là các đại). Sau đó khoa học phương Tây bước vào thời Trung cổ, chịu ảnh hưởng của thần học với những tín điều như trái đất là trung tâm bất động của vũ trụ. Phải đến thế kỷ XVI với những nhà khoa học như Galileo (đưa sự thực nghiệm vào khoa học) và Copernicus (người đầu tiên khẳng định bằng khoa học rằng trái đất quay quanh mặt trời), thì khoa học mới dần tách ra khỏi tôn giáo, trở lại vị trí độc lập.

Chỉ sau Galileo chưa đầy nửa thế kỷ, Newton (1643 – 1727) với phát hiện về lực hấp dẫn, đã lý giải vũ trụ trong trật tự cơ học. Mọi hiện tượng đều được giải thích. Vũ trụ là trật tự, một trật tự cơ học, vận hành trên cơ sở định luật hấp dẫn. Mơ ước về một thế giới quan thống nhất, quy kết vào những nguyên lý thống nhất xem ra đã thành hiện thực. Nhưng vũ trụ cơ học cổ điển của Newton vẫn còn thô, “cứng” (cứng và mềm, hiểu theo thuật ngữ hiện đại, như của vi tính chẳng hạn) và chưa sâu sắc lắm, vì nó chưa chạm đến những phần vi tế của vũ trụ như: bản chất của lực hấp dẫn, bản chất của ánh sáng, mô hình của nguyên tử, lực điện từ, tương tác yếu, tương tác mạnh trong nguyên tử v.v…

Phải đợi đến đầu thế kỷ XX, vật lý học đã tiến một bước lớn, mà chúng ta gọi là vật lý học hiện đại, vi tế hơn, “mềm” hơn, sâu sắc hơn, và chính với nền vật lý này, thế giới quan của khoa học mới tiếp cận được với minh triết phương Đông. Những cuốn sách Đạo Vật lý (1977) của Fritjof Capra và Einstein và Đức Phật (2002) của J. Mac Farlane (cả hai tác giả đều là những nhà vật lý) đã chứng tỏ điều đó. Từ năm 1969, trong cuốn sách Nhà Vật lý và những Nhà Đạo học, Những Tương đồng trong Thế giới quan, nhà tâm lý học tiền phong Lawrence Le Shan đã làm một điều tra: ông đã để lẫn lộn những câu nói của những nhà vật lý hàng đầu như Einstein, Max Plank, Niels Bohr, Heisenberg… với những câu nói của Viverananda, Krishnamurti, Tagore… thì ngay cả những người rất trí thức cũng khó mà phân biệt đâu là câu nói của nhà vật lý và đâu là câu nói của nhà đạo học.

Năm 1909, Einstein, dĩ nhiên dựa vào trào lưu khám phá mới trong vật lý học, đã nêu ra thuyết tương đối đặc biệt. Ở đây chúng ta chỉ nhắc đến hai điểm:

– Không gian, thời gian trước đây được xem như là hai đại lượng tuyệt đối thì nay chúng trở thành tương đối. Không gian, thời gian, khối lượng… nghĩa là tất cả mọi vật đều có thể co giãn. Khối lượng thì co lại, thời gian thì chậm lại khi chuyển động với tốc độ rất nhanh. Bằng tốc độ ánh sáng, vật tan biến thành ánh sáng và thời gian đồng hồ cũng không còn. Trước kia chúng ta chỉ sống trong một thế giới giác quan ba chiều, nay Einstein thêm vào chiều thời gian, thành ra một tổng hợp bốn chiều, gọi là thời – không, và vũ trụ không chỉ có bốn chiều mà có thể có n chiều. Tóm lại, tất cả thế giới chúng ta biết đều tương đối vì mỗi cái đều tùy thuộc vào những yếu tố khác. “Những từ ngữ đời thường “không gian” và “thời gian” ám chỉ một cấu trúc của không gian và thời gian thực ra là một sự ý niệm hóa đơn giản quá mức” (Heisenberg). Và ngành thiên văn khám phá vũ trụ không đứng yên mà đang giãn nở sau vụ nổ lớn Big Bang, vụ nổ năng lượng đã tạo ra vũ trụ chúng ta.

– Khối lượng có thể biến thành năng lượng trong một công thức rất đơn giản E = mc2. Như vậy vật chất chỉ là dạng năng lượng cô đặc. Các hạt thì có đời sống biến đổi luôn luôn, có hạt chỉ sống chưa đầy một phần trăm triệu của một giây. Chúng ta có thể hình dung vũ trụ là một biển năng lượng trong đó các hạt từ năng lượng sinh ra rồi lại tan biến thành năng lượng, “sinh diệt trong khoảnh khắc”, như bọt biển từ nước biển sinh ra rồi tan vào nước biển. Đây cũng là một hình ảnh thí dụ về thực tại của Phật giáo Đại thừa.

Năm 1900, Max Plank phát hiện rằng năng lượng phát ra không theo một sự liên tục mà theo từng “gói”, từng lượng tử. Những gói năng lượng đó chỉ tùy thuộc vào tần số của bức xạ và một hằng số gọi là hằng số Plank. Và Heisenberg đã phát minh nguyên lý bất định: người ta không thể vừa biết vị trí, vừa biết vận tốc của một hạt. Biết chính xác vận tốc thì không thể biết chính xác vị trí của nó. Khoa học không còn là khoa học chính xác, mà là xác suất, đó là cơ học ma trận (matrix). Capra nói: “Nhìn chung, một hạt thiếu ổn định có thể phân hủy biến thành nhiều cách phối hợp khác nhau của những hạt khác, và ta lại không biết hạt đó sẽ mang hình dáng phối hợp nào. Chúng ta chỉ có thể tiên đoán, trong một số lượng lớn các hạt thì khoảng 60% của chúng sẽ biến chuyển ra thế này, 30% sẽ biến chuyển ra thế khác và 10% sẽ biến chuyển theo kiểu thứ ba”. Tính xác suất này cho ta thấy hạt có vẻ “tự do”, không thể dự đoán chính xác “hành vi” của nó..

Quan niệm về lượng tử mở đường cho khuynh hướng thứ hai của vật lý hiện đại, đó là vật lý lượng tử. Có lẽ điều quan trọng nhất mà vật lý lượng tử khám phá là vật chất có hai dạng: vừa là hạt vừa là sóng. Đó là một mâu thuẫn đối với ý thức chúng ta: một hạt như electron chẳng hạn vừa là hạt vừa là sóng, và những phương trình xem nó là hạt cũng đúng mà những phương trình xem nó là sóng cũng đều đúng. Từ đó có thêm một điều khá kỳ lạ là cái mà chúng ta quan sát tùy thuộc vào người quan sát, nếu ta quan sát theo hệ thống hạt thì vật chất là hạt, nếu quan sát theo hệ thống sóng thì nó là sóng. Schrodinger đã viết ra những phương trình sóng xác suất đó. Phương trình sóng xác suất được hiểu là khả năng xuất hiện của hạt. Chỉ khi có người quan sát, phương trình sóng mới “sụp đổ” (collapse) để sóng biến thành hạt.

Heisenberg đã nói: “Nguyên tử không phải là vật”. Ông nói tiếp: “Điều mà ta quan sát thấy không phải là thể tính đích thực của thiên nhiên mà là cái do thiên nhiên xuất hiện ra theo cách tra hỏi của chúng ta”. Và Bohr tóm tắt vào cuối đời mình: “Không hề có một thế giới lượng tử, chỉ có một sự miêu tả lượng tử trừu tượng”.

Tóm lại, với khoa học hiện đại, vật chất không còn là một chất thể cứng đặc, nó “mềm” hơn nhiều, ít “thật” hơn nhiều, với những chuyển động gần bằng tốc độ ánh sáng, với những hạt không ổn định, thoắt hiện thoắt biến. Vật chất chỉ là sóng năng lượng, và tùy theo sự “phá vỡ” phương trình sóng đó mà có một phương diện của hiện tượng xuất hiện với chúng ta, phù hợp với giác quan và ý thức của chúng ta, đó là cái chúng ta gọi là vật chất.

Hiện nay có gần 10 cách diễn dịch (interpretation) về thế giới vật lý, trong đó có hai đường lối diễn dịch chính.

Đường lối diễn dịch Copenhagen do Bohr và Heisenberg khởi xướng. Heisenberg nói: “Khoa học tự nhiên không mô tả và lý giải về tự nhiên đúng như tự thân tự nhiên. Đúng hơn, khoa học tự nhiên là một phần của tiến trình tương tác qua lại giữa tự nhiên và chính chúng ta”. Einstein cũng nói: “Sự vật luôn luôn là cái gì được chúng ta sáng tạo ra bằng tâm thức, nghĩa là cái gì chúng ta ấn định một cách tự do (trong chiều hướng có luận lý). Những sáng tạo như vậy, chúng tiêu biểu, đại diện cho “thực tại” đối với chúng ta, chỉ được biện minh bằng tính chất có thể hiểu được những gì giác quan đưa đến”. Sự vật không phải là hạt cũng không phải sóng. Sóng hay hạt đều là sự xuất hiện của một thể “khả năng” nào đó với nhà quan sát. Khi xác định một sự vật, con người đã làm “sụp đổ” phương trình sóng của nó và bắt ép nó vào trong một hệ thống định sẵn của mình. Như vậy, khi hỏi chất thể của vật là gì, đó là một câu hỏi vô nghĩa (hay “bất định” như lối nói của Anaximandre ở trên?).

Đường lối diễn dịch “đa thế giới” của lý thuyết “dây” (string theory) hay “siêu màng” (membran) được S. Hawking, nhà vật lý lý thuyết được xem là xuất sắc nhất hiện nay, và Feynman và Heinberg, cả hai đều được giải Nobel vật lý. Quan điểm này nói rằng thực tại là một mạng lưới nhiều chiều (ít nhất là 10 chiều) và một phần của mạng lưới đó lọt vào cơ cấu không – thời gian bốn chiều của chúng ta để thành ra thế giới vật chất như chúng ta kinh nghiệm.

Sự tương đồng của khoa học vật lý và Phật giáo

Khi đi sâu vào bản chất của sự vật để tìm ra ý nghĩa và giá trị của toàn bộ đời sống, những nhà khoa học trở thành những triết gia. Einstein tìm ra giá trị và ý nghĩa con người trong những phát biểu tương đồng với Phật giáo: “Giá trị chân thực của một con người được xác định chủ yếu bởi mức độ tâm thức trong đó nó đã đạt đến giải thoát khỏi bản ngã… Một con người kinh nghiệm chính nó, những tư tưởng và cảm nhận của nó như cái gì tách lìa khỏi phần còn lại – một loại ảo tưởng thị giác của ý thức. Sự mê lầm này là một loại nhà tù cho chúng ta, hạn cuộc chúng ta trong những tham muốn cá nhân và luyến thương vài người gần chúng ta nhất. Công việc của chúng ta phải là giải thoát chúng ta ra khỏi ngục tù này bằng cách mở rộng phạm vi thấu hiểu và đem tình thương để bao trùm tất cả vạn vật và thiên nhiên trong vẻ đẹp của nó”.

Đọc bất cứ cuốn sách vật lý nào của thời hiện đại, chúng ta đều có cảm giác thế giới vật lý là một cái gì không thực, thậm chí như một ảo ảnh: “Thí dụ như ta hỏi, liệu electron có giữ nguyên vị trí hay không, ta phải trả lời “không”; vị trí của electron có thay đổi theo thời gian hay không, ta phải trả lời “không”; electron có đứng yên hay không, ta phải trả lời “không”; electron có đang vận động hay không, ta phải trả lời “không”. (R. Oppenheimer).. Những diễn tả về vật lý như vậy đều quy về một hình ảnh như kết luận của kinh Kim Cương:

Tất cả pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bọt, ảnh

Như sương, như điện chớp

Nên quán sát như vậy.

Schrodinger, người viết ra những phương trình sóng lượng tử đã nói: “Thế giới muôn hình muôn vẻ chỉ là sự xuất hiện (appearance, đây cũng là chữ mà các dịch giả dùng để dịch chữ “hình tướng” của Phật giáo ra tiếng Anh), nó không thật”. Eddington nói: “Khái niệm chất thể vật chất đã biến mất khỏi vật lý những hạt căn bản”. Ông nói tiếp: “Gốc rễ chung từ đó sự hiểu biết khoa học và mọi hiểu biết khác phát sinh… là nội dung của ý thức tôi”.

Chúng ta sử dụng năm giác quan và ý thức như thế nào thì thế giới hiện ra với chúng ta như thế ấy. Đây là điều mà Duy thức tông đã nêu lên thành nguyên lý của tông mình: “Ba cõi duy chỉ là tâm, muôn pháp duy chỉ là thức”. Một thí dụ thường gặp trong Phật giáo, khi có người quay tròn một cành củi có đầu than đang cháy trong đêm, chúng ta thấy một “thực thể” là một bánh xe màu lửa, vật tròn màu lửa ấy hẳn phải cứng đặc, như có thực thể. Cái mà chúng ta gọi là vật chất hay nguyên tử (“sắc” theo Phật giáo) hẳn cũng giống như vậy..

Nhưng theo Phật giáo, mặc dù vũ trụ muôn hình muôn vẻ sai khác như vậy, tất cả vẫn là một, tất cả thống nhất với nhau trong sự hòa điệu bí ẩn của “pháp giới nhất tâm”. Sự tương tác trong thống nhất như vậy đã tạo thành cái mà Hoa Nghiêm tông gọi là pháp giới sự sự vô ngại. Nhà vật lý lý thuyết Trịnh Xuân Thuận nói: “Từ thí nghiệm con lắc Foucault, dao động hoàn toàn không đếm xỉa gì đến địa phương xung quanh nó, bất chấp cả trái đất, mặt trời cho đến các cụm thiên hà địa phương. Nó hiệu chỉnh hành trạng của nó theo các thiên hà ở xa hay cũng có nghĩa là theo toàn bộ vũ trụ. Nói một cách khác, tất cả những gì đang ngầm diễn ra trong mỗi chúng ta đều được quyết định trong khoảng bao la của vũ trụ, mỗi một bộ phận đều mang trong đó cái toàn thể và phụ thuộc vào phần còn lại… Dẫu thế nào đi nữa, con lắc Foucault cũng buộc chúng ta phải rút ra kết luận rằng, có một loại tương tác hoàn toàn khác với những tương tác đã được mô tả bởi vật lý học, một loại tương tác bí ẩn không có liên quan với lực hoặc trao đổi năng lượng, mà chỉ có tác dụng liên kết toàn bộ vũ trụ” (Giai điệu bí ẩn – 1988).

Khi khoa học quy thế giới về năng lượng (như vụ nổ lớn Big Bang đã tạo ra vũ trụ chúng ta hẳn phải sinh ra từ năng lượng), vật chất là năng lượng cô đặc lại, thì Phật giáo quy mọi sự về tính Không. Và tính Không không phải là không có gì cả, mà theo những người chứng ngộ trong Phật giáo, như các thành tựu giả Ấn Độ hay như Lục Tổ Huệ Năng [xem chương Bát Nhã hay câu nói “Nào ngờ tự tính
(tính Không) vốn tự thanh tịnh, nào ngờ tự tính vốn chẳng sinh diệt,
nào ngờ tự tính vốn tự đầy đủ, nào ngờ tự tính vốn không lay động, nào
ngờ tự tính sinh ra muôn pháp”], giải thích thì tính Không là thể tính Không chất thể của tất cả mọi sự. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng thế giới như thật (pháp giới) xuất sinh từ Phật Tỳ Lô Giá Na, và tính Không là một phương diện của Tỳ Lô Giá Na hay Đại Nhật Như Lai. Phật có tính vũ trụ, trong kinh Pháp Hoa (phẩm Như Lai thọ lượng và phẩm Như Lai thần lực) cũng nói như vậy.

Khi vật lý hiện đại nói rằng vật chất là năng lượng thì Bát Nhã Tâm kinh nói rằng sắc (vật chất) tức là không. Tính Không này nếu dùng chữ của khoa học là năng lượng toàn thể và thuần túy nhất thì cái toàn thể và thuần túy ấy được kinh nói tiếp “bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh”. Chúng ta đọc thêm cách diễn tả của Trịnh Xuân Thuận: “Vật chất có thể xuất hiện từ chân không nếu có năng lượng đủ lớn được tuôn ra. Chân không là cội nguồn của tất cả… Sự phóng thích năng lượng của chân không trong vũ trụ ở giai đoạn lạm phát còn có một hiệu quả khác cực kỳ quan trọng. Nó sẽ cho ra đời các hạt vật chất vũ trụ… Vũ trụ được tắm trong món xúp của các hạt quark, electron, nơtrinô, phôton và các phản hạt của chúng”.

Nhưng năng lượng của khoa học thì chưa toàn thể và thuần túy, vì đó chỉ là năng lượng của một phần vật chất thô con người biết được mà thôi. Hiện nay chúng ta chỉ mới biết được chưa tới 10% vật chất vũ trụ, còn hơn 90% kia chưa biết được nên khoa học gọi là vật chất tối (dark matter). Nói theo Phật giáo, ngoài vật chất (sắc) còn có những thứ vật chất vi tế hơn, đó là thọ, tưởng, hành, thức. Phải chăng hơn 90% vật chất tối mà chúng ta chưa biết được ấy là những loại hạt mịn hơn, vi tế hơn, mà những máy móc làm bằng vật chất thô của khoa học hiện đại không thể “lọc” ra được. Cái sàng để thí nghiệm của chúng ta quá thô, nó chỉ giữ lại được đá và sỏi, còn cát thì không giữ được, vì không giữ được nên nói là không có, nói là vật chất tối. Và ngoài chất tối ra, biết đâu còn có mấy trăm phần trăm “phi vật chất” tối khác nữa?

Ở đây chúng ta nhìn thấy những giới hạn của khoa học – mà nói theo các nhà vật lý đã trích dẫn ở trên, đó cũng là giới hạn của các giác quan và ý thức của con người – không chỉ tốc độ ánh sáng là giới hạn của vật chất cõi này (nếu bằng tốc độ ánh sáng, vật chất sẽ tiêu tan thành ánh sáng), không chỉ là nguyên lý bất định… mà còn những hạt khác, sóng khác, trường khác.. Như tư tưởng, chúng là hạt nào, có tần số ra sao? Như khi chết, cái thần thức (mà người ta thường gọi là linh hồn) đi tái sinh và cảnh giới trung ấm của nó, chúng là loại hạt nào, sóng nào? Hay chúng ở trong những chiều khác ngoài bốn chiều của thế giới vật lý của chúng ta, những chiều mà chúng ta chỉ dự đoán được qua những phương trình toán học, còn thì không thể nào biết được khi ngày nào chúng ta còn sống trong bốn chiều giác quan hiện thời. Rất nhiều điều chúng ta không biết bằng những dụng cụ thí nghiệm làm bằng vật chất thô của khoa học hiện đại, và chúng ta cho đó là vật chất tối. Ngay cả những hạt quark là những hạt được xem là căn bản nhất của những nguyên tử của cõi này, chúng ta cũng không biết chúng có hiện hữu hay không, hay đó chỉ là những tính toán trên những phương trình để cân bằng hai vế. Với cái nhìn của lý thuyết “màng” hay “dây”, thế giới thực sự thì có nhiều chiều, tiếc thay những chiều đó ở ngoài các giác quan và ý thức của chúng ta, nên chúng chỉ nằm trên những phương trình giả thiết.

Cũng như sự thống nhất vũ trụ mà chúng ta đã nói ở trên, sự thống nhất đó không thể thực hiện bằng cách ghép các sự vật với nhau, bằng cách ghép sóng với hạt, hay ghép các lực với nhau một cách giả tạo, hay thống nhất bằng những phương trình, vì đơn giản người ta không thể sống bằng phương trình, không hít thở bằng phương trình. Sự thống nhất đó chỉ có thể thực hiện, theo Phật giáo, bằng một tâm thanh tịnh, nghĩa là một tâm vượt khỏi sự phân chia chủ thể và đối tượng, thân và tâm, ta và người, ý thức và thế giới, vật chất và tinh thần, vật lý học và siêu hình học, tâm lý học và toán học, đạo đức học và sinh học… Bởi vì nghĩ cho cùng, chúng ta không có cái gì khác hữu hiệu nhất, vi tế nhất, cao cấp nhất ngoài một tâm thanh tịnh. Và có thể nói thêm, trong một nguyên lý của Phật giáo, tâm thanh tịnh thì tất cả thanh tịnh, tâm thống nhất thì tất cả thống nhất.

Một trong những lý do để khoa học gặp gỡ Phật giáo là ngày nay, các nhà vật lý phải đụng chạm đến những vấn đề triết học: chủ thể – đối tượng, vật chất – ý thức, tính liên tục và không liên tục, ngẫu nhiên và tất yếu… Phật giáo không chú trọng lắm đến một hệ thống lý thuyết thỏa mãn trí thức của con người mà chỉ chú trọng đến sự thực hành để tiêu diệt khổ đau, phiền não đạt đến giải thoát, phá bỏ hai cái che chướng là phiền não chướng và sở tri chướng để ngộ nhập thực tại không thể nghĩ bàn (bất khả tư nghì), và lý thuyết chỉ có nhiệm vụ phác họa cho thực hành, thực hành thành tựu thì lý thuyết cũng bỏ, như cái bè phải bỏ khi đã qua đến bờ bên kia. Phật giáo cũng có thể nói là một triết học và lý thuyết triết học đó đã đem lại thành công cho nhiều người suốt hơn 2.500 năm nay.

Con đường Phật giáo

Cũng như khoa học, cũng như tất cả mọi ngành học thuật và nghệ thuật khác, cũng như tất cả mọi lĩnh vực sinh hoạt của con người, Phật giáo cũng đi tìm thực tại tối hậu, thể tính tối hậu của con người, của ngoại vật. Chỉ nói riêng một phương diện của khoa học là sự thí nghiệm, thì Phật giáo cũng có người nghiên cứu thí nghiệm, có dụng cụ thí nghiệm, có đối tượng để thí nghiệm. Phòng thí nghiệm chính là thân tâm của chúng ta, người thí nghiệm và đối tượng thí nghiệm cũng là thân tâm của chúng ta. Thân tâm chúng ta có đủ các nguyên tố căn bản của vũ trụ, từ thô đến tế, cho nên thí nghiệm với đối tượng là thân tâm chúng ta cũng tức là thí nghiệm với đối tượng là vũ trụ.

Chỉ so sánh một dụng cụ hỗ trợ cho thí nghiệm là bộ óc so với máy điện toán, thì như những nhà khoa học nói, dù là máy điện toán thế hệ thứ năm, công năng tư duy của nó chỉ bằng có vài tế bào não, thế thì với một bộ máy điện toán, lại là bộ máy điện toán sinh học, với hàng tỷ tế bào như vậy, hẳn là không một bộ máy điện toán nào so sánh được, dù nó có cao lớn bằng một tòa nhà mấy mươi tầng. Huống gì còn tâm thức con người, cái “chủ thể” quyết định mọi sự, với kinh nghiệm của nhiều kiếp, lại không chỉ là bộ óc, mà chỉ dựa vào bộ óc một phần để làm việc.

Vì với phòng thí nghiệm là toàn bộ thân tâm như vậy, nên khi cuộc “thí nghiệm” thành công thì toàn bộ thân tâm cũng chuyển hóa. Đây là điều khoa học không làm được. Một nhà vật lý khi tìm ra một công thức, một lý thuyết, thân tâm họ không chuyển hóa, họ vẫn như cũ, với những phiền não như cũ, chỉ có thêm được một phần kiến thức mà thôi. Cũng như truyền thuyết của thuật giả kim (alchemy), khi người thí nghiệm thành công, đã làm ra được vàng, thì kỳ diệu thay người đó cũng được chính tiến trình thí nghiệm chuyển hóa, người đó không còn tham sân si để làm ra vàng nữa, bấy giờ toàn bộ thế giới trong tâm thức người ấy đã biến thành vàng.

Nhưng không chỉ có một dụng cụ siêu việt là bộ óc, hay rộng hơn, là cơ cấu thân tâm, Phật giáo còn chỉ dạy làm thế nào đưa cơ cấu thân tâm ấy đến khả năng cao nhất của nó. Chúng ta tiếc rằng, ngay cả một nhà bác học cũng không thể sử dụng hết bộ óc của mình, mà chỉ vận dụng tối đa chưa tới 10% khả năng bộ óc.. Phật giáo giúp chúng ta khai triển khả năng của toàn bộ thân tâm bằng giới, định, tuệ và rất nhiều cái khác không thể nói hết như tín, hạnh, nguyện… tùy từng người với cơ cấu thân tâm mình hợp với những cái nào, “pháp môn” nào. Lấy ví dụ đơn giản, muốn nhìn cho rõ (để thấy thực tại) thì không thể chạy lăng xăng, không thể buồn ngủ hay dùng chất kích thích cho mắt mờ, trí yếu (giới), tâm thức đó phải tập trung (định) và phải biết quan sát một cách tinh tế trong sự tịch lặng mà không bị ám ảnh bởi thành kiến, bởi chủ thể và đối tượng, ta và vật (tuệ).

Chúng ta không thể nói hết về những điều này, chỉ nói chung đường hướng tổng quát của Phật giáo là chuyển hóa con người để con người có thể kinh nghiệm được, sống an trú trong thực tại. K. Marx đã nói “Triết học không phải để giải thích thế giới (như các triết gia trước Marx), mà là để biến đổi thế giới”. Trong một cách nói như vậy, chúng ta có thể diễn tả rằng “Phật giáo không phải là giải thích về thế giới và con người, mà là để chuyển hóa con người, và khi con người được chuyển hóa, thế giới cũng được chuyển hóa (cả nội dung lẫn hình thức)”.

Nguyên lý của Phật giáo là: hãy làm cho tâm thức mình trong sạch, không phiền não, không biến động, không phân chia, khi đó thực tại tối hậu sẽ hiện ra (trong tâm ấy). Và tùy mức độ thanh tịnh của tâm thức đến đâu, thế giới như thật sẽ hiện ra tới mức độ đó. Mặt gương tâm sạch tới đâu, thế giới sẽ hiện ra tới đó. Thiền sư Vô Ngôn Thông, vị khai sáng dòng thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam đã đại ngộ vì câu nói của Thiền sư Bách Trượng: “Đất tâm nếu không, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên chiếu sáng”. Tâm nếu không phân chia chủ thể với khách thể, thân tâm và thế giới, tâm và vật, Phật giáo và khoa học…, nghĩa là không tự phân tán, không tự làm manh mún chính nó, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên soi chiếu, thực tại tối hậu sẽ hiện tiền (hiện ra trước mắt).

Chúng ta đã biết, chính tâm thức và những cơ cấu lý thuyết của nó quyết định sẽ tìm ra cái gì (của thực tại). Phật giáo cũng thế, có điều, với Phật giáo, tâm thức cần quét sạch mọi thứ phiền não nhiễm ô của nó (mà Phật giáo gọi là phiền não chướng) kể cả những kiến thức lâu ngày đã thành thành kiến và những khuôn khổ cơ cấu lý thuyết (mà Phật giáo gọi là sở tri chướng – chúng ta chú ý hai chữ “chướng” này, “chướng” có nghĩa là ngăn che, một ý nghĩa rất “khoa học”) để cho thực tại hiện bày. Cho nên con đường “khoa học” của Phật giáo là Tự tịnh kỳ ý (tự làm thanh tịnh tâm ý mình), điều cuối cùng trong ba điều Phật dạy: “Các điều ác chớ làm. Các điều thiện vui làm. Tự tịnh tâm ý”.

Và bởi vì Phật giáo đưa toàn bộ thân tâm mình – nghĩa là toàn bộ vũ trụ, vì thân tâm mình có đủ mọi nguyên tố (các đại) của vũ trụ – vào công cuộc nghiên cứu thí nghiệm (mà chúng ta gọi là tu hành, thực hành) như vậy, cho nên thực tại mà Phật giáo tìm ra không chỉ là thực tại vật lý của vật lý học, mà còn là thực tại của tâm lý học, của đạo đức học, của mỹ học, của xã hội học… Một thí dụ, chẳng hạn đối với những tông phái cao nhất của Đại thừa, thực tại tối hậu vừa là tính Không (“hữu thể học” hay “thực tại luận”) vừa là đại bi hay tính thiện (có thể xem là “đạo đức học”), vừa là bản tính hay chân tâm (“tâm lý học”), vừa vốn toàn thiện toàn mỹ từ nguyên sơ (mỹ học)…

Như vậy, Phật giáo có thể thống nhất tất cả các ngành học (và tất cả mọi lĩnh vực xã hội) vào trong con đường của mình, con đường đưa đến thực tại tối hậu, đưa đến “thực tướng của tất cả các pháp”, thực tướng của tất cả các hiện tượng. Đó là con đường mà theo lời Đức Phật, toàn thiện ngay từ lúc khởi đầu, toàn thiện ở chặng giữa, toàn thiện ở lúc cuối cùng.

Nguyễn Thế Đăng